Cập nhật lãi suất ngày 7/4/2026: Thị trường chứng kiến đà tăng trưởng mạnh từ các “ông lớn” như VietinBank, Techcombank và VIB khi các đơn vị này đồng loạt điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi.
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (VietinBank) vừa tiếp tục tăng lãi suất huy động với các kỳ hạn từ 6-36 tháng.
Dựa trên biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến mới nhất do VietinBank công bố, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6-11 tháng lĩnh lãi cuối kỳ đồng loạt được niêm yết tại mức lãi suất mới 6,6%/năm, tăng rất mạnh tới 1,1%/năm so với mức lãi suất cũ.
Đối với kỳ hạn dài hơn từ 12 đến 36 tháng, VietinBank cũng nâng lãi suất thêm 0,9%/năm, đưa mức áp dụng lên 6,8%/năm.
Trong khi đó, các khoản tiền gửi ngắn hạn từ 1 đến 5 tháng vẫn duy trì mức lãi suất tối đa 4,75%/năm, phù hợp với quy định áp trần đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng.
Với việc vừa tăng lãi suất tiền gửi, hiện VietinBank đã niêm yết lãi suất ngang bằng với BIDV ở tất cả các kỳ hạn.
Trong nhóm Big4 ngân hàng, Agribank vẫn đang là ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi cao nhất, lên tới 7%/năm cho kỳ hạn 6-36 tháng.

Dù chưa điều chỉnh biểu lãi suất tiền gửi (hiện duy trì ở mức 5,5%/năm cho kỳ hạn 6-11 tháng, 5,9%/năm cho kỳ hạn 12-18 tháng và 6,5%/năm cho kỳ hạn 24-36 tháng), Vietcombank vẫn thu hút sự chú ý khi triển khai chương trình phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất lên đến 7,9%/năm nhằm gia tăng nguồn vốn.
Đáng chú ý, chứng chỉ tiền gửi do Vietcombank phát hành có mệnh giá chỉ từ 100.000 đồng, khách hàng có thể mua qua ứng dụng ngân hàng với kỳ hạn duy nhất 12 tháng.
Như vậy, Vietcombank đã vươn lên vượt MB trong cuộc cạnh tranh về lãi suất huy động chứng chỉ tiền gửi. Trước đó, sau nhiều lần điều chỉnh tăng lãi suất, MB hiện đang áp dụng lãi suất 7,1%/năm cho kỳ hạn 3–6 tháng, 6,8%/năm cho kỳ hạn 2 tháng và 6,7%/năm đối với kỳ hạn 1 tháng. Ngoài ra, ngân hàng này còn triển khai các loại chứng chỉ ngắn hạn như kỳ hạn theo ngày với lãi suất 3%/năm và kỳ hạn theo tuần ở mức 5,3%/năm.
Techcombank hiện cũng đang áp dụng mức lãi suất khá hấp dẫn cho chứng chỉ tiền gửi Bảo Lộc, lên tới 7,1%/năm đối với kỳ hạn 3 tháng, với số tiền gửi tối thiểu từ 10 triệu đồng.
Theo tính toán, nếu để 50 triệu đồng trong tài khoản không kỳ hạn, sau 3 tháng số tiền lãi thu được chỉ khoảng 6.164 đồng. Ngược lại, khi lựa chọn đầu tư vào chứng chỉ tiền gửi, khoản lãi có thể đạt tới 875.342 đồng.
Bên cạnh đó, Techcombank cũng đưa ra các mức lãi suất cho chứng chỉ tiền gửi ở các kỳ hạn ngắn như 10 ngày, 26 ngày và 1 tháng, tương ứng lần lượt là 0,5%/năm, 4,8%/năm và 6,7%/năm.
Quay lại diễn biến cuộc đua lãi suất huy động, Techcombank cũng vừa thực hiện đợt điều chỉnh tăng mạnh khi nâng thêm 1%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Theo đó, lãi suất tiền gửi trực tuyến cho kỳ hạn 6-11 tháng đã lên mức 7,05%/năm, trong khi mức cao nhất đạt 7,25%/năm áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng.
Đối với các kỳ hạn khác, ngân hàng vẫn giữ nguyên biểu lãi suất hiện hành. Cụ thể, kỳ hạn 1-2 tháng là 4,35%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng ở mức 4,65%/năm và các kỳ hạn dài từ 13-36 tháng duy trì ở mức 6,35%/năm.
Bên cạnh đó, Techcombank còn triển khai ưu đãi cộng thêm 0,8%/năm cho các khoản tiền gửi online kỳ hạn 6 tháng vào mỗi thứ Hai hàng tuần. Khi đáp ứng đầy đủ điều kiện, khách hàng có thể hưởng mức lãi suất tối đa lên tới 8%/năm cho kỳ hạn chỉ 6 tháng.

Không riêng Techcombank, Ngân hàng VIB cũng vừa điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng thêm 0,5%/năm, đưa mức áp dụng lên 7%/năm.
Đối với các kỳ hạn khác, VIB vẫn giữ nguyên biểu lãi suất hiện hành. Cụ thể, kỳ hạn 1–5 tháng ở mức 4,75%/năm; kỳ hạn 6–8 tháng là 5,7%/năm; kỳ hạn 9–11 tháng đạt 5,8%/năm; kỳ hạn 15–18 tháng là 5,9%/năm và các kỳ hạn dài từ 24–36 tháng duy trì ở mức 6%/năm.
Tháng 4 mới chỉ bước sang ngày thứ 7 nhưng đã có tới 7 ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi gồm: Viet A Bank, Nam A Bank, BaoViet Bank, ACB, VietinBank, Techcombank, VIB.
| LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TRỰC TUYẾN TẠI CÁC NGÂN HÀNG NGÀY 7/4/2026 (%/NĂM) | ||||||
| NGÂN HÀNG | 1 THÁNG | 3 THÁNG | 6 THÁNG | 9 THÁNG | 12 THÁNG | 18 THÁNG |
| AGRIBANK | 4,75 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7 |
| BIDV | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| VIETINBANK | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| VIETCOMBANK | 4 | 4,5 | 5,5 | 5,5 | 5,9 | 5,9 |
| ABBANK | 3,8 | 4 | 6,3 | 6,3 | 6,3 | 6,3 |
| ACB | 4,75 | 4,75 | 7,1 | 7,2 | 7,3 | |
| BAC A BANK | 4,55 | 4,55 | 7,05 | 7,05 | 7,1 | 7,1 |
| BAOVIETBANK | 4,75 | 4,75 | 6,9 | 6,9 | 7 | 7 |
| BVBANK | 4,75 | 4,75 | 6,8 | 6,8 | 6,8 | 7,2 |
| EXIMBANK | 4,6 | 4,7 | 5,4 | 5,3 | 5,3 | 5,8 |
| GPBANK | 3,9 | 4 | 5,55 | 5,65 | 5,85 | 5,85 |
| HDBANK | 4,2 | 4,3 | 5,5 | 5,3 | 5,8 | 6,1 |
| KIENLONGBANK | 4,4 | 4,4 | 5,7 | 5,4 | 6 | 5,35 |
| LPBANK | 4,7 | 4,75 | 7,3 | 7,3 | 7,4 | 7,1 |
| MB | 4,5 | 4,7 | 5,9 | 5,9 | 6,55 | 6,55 |
| MBV | 4,6 | 4,75 | 7,2 | 7,2 | 7,5 | 7,5 |
| MSB | 4,75 | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,8 | 6,8 |
| NAM A BANK | 4,6 | 4,75 | 6,3 | 6,3 | 6,4 | 6,3 |
| NCB | 4,7 | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,6 | 6,8 |
| OCB | 4,75 | 4,75 | 6,7 | 6,7 | 7 | 7,2 |
| PGBANK | 4,75 | 4,75 | 7,1 | 7,1 | 7,2 | 6,8 |
| PVCOMBANK | 4,75 | 4,75 | 5,8 | 5,8 | 6,1 | 6,8 |
| SACOMBANK | 4,75 | 4,75 | 6,8 | 6,8 | 6,8 | 6,8 |
| SAIGONBANK | 4,75 | 4,75 | 6,5 | 6,5 | 6,5 | 7 |
| SCB | 1,6 | 1,9 | 2,9 | 2,9 | 3,7 | 3,9 |
| SEABANK | 3,95 | 4,45 | 5,35 | 5,49 | 5,8 | 6,25 |
| SHB | 4,6 | 4,65 | 6 | 6,1 | 6,3 | 6,5 |
| TECHCOMBANK | 4,35 | 4,75 | 7,05 | 7,05 | 7,25 | 6,35 |
| TPBANK | 4,75 | 4,75 | 6,25 | 6,25 | 6,45 | 6,45 |
| VCBNEO | 4,75 | 4,75 | 7,2 | 7,2 | 7,2 | 7,2 |
| VIB | 4,75 | 4,75 | 5,7 | 5,8 | 7 | 5,9 |
| VIET A BANK | 4,7 | 4,75 | 6,5 | 6,5 | 6,6 | 6,7 |
| VIETBANK | 4,6 | 4,6 | 6,1 | 6,2 | 6,3 | 6,6 |
| VIKKI BANK | 4,7 | 4,7 | 6,5 | 6,5 | 6,6 | 6,6 |
| VPBANK | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |






![[Cập nhật] Giá vàng Nhật Bản 24k hôm nay tăng hay giảm](https://topsanfx.com/wp-content/uploads/2023/06/gia-vang-Nhat-Ban-1-120x86.jpg)










